1. Đại diện giữa vợ và
chồng
Theo
quy định của Bộ luật Dân sự 2015, Điều 24 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (Luật HNGĐ
2014), đại diện giữa vợ và chồng có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện
theo ủy quyền:

Thứ hai, đại diện theo ủy quyền: Vợ, chồng
có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định
của Luật HNGĐ, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của
cả hai vợ chồng.
Pháp
luật còn quy định một số trường hợp đại diện cụ thể như sau:
Thứ nhất, đại diện giữa vợ và chồng
trong quan hệ kinh doanh theo Điều 25 Luật HNGĐ 2014. Theo đó, Trong trường hợp
vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh
là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp
trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật
này và các luật liên quan có quy định khác. Trong trường hợp vợ, chồng đưa tài
sản chung vào kinh doanh thì áp dụng quy định tại Điều 36 Luật HNGĐ 2014, tức
là, nếu vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh
thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung
đó và thỏa thuận đó phải lập thành văn bản.
Thứ hai, đại diện giữa vợ và chồng
trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối
với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng.
Trong
trường hợp này, quan hệ đại diện giữa vợ và chồng thực hiện theo như quy định tại
Điều 24 và Điều 25 Luật HNGĐ 2014. Ngoài ra, theo Khoản 2 Điều 26 Luật HNGĐ
2014, trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy
chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch
với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này
thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người
thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.
Vì
tài sản đem giao dịch là tài sản chung của vợ chồng, do đó, trách nhiệm ở đây
là trách nhiệm liên đới của vợ chồng. Theo Điều 27 Luật HNGĐ 2014, vợ chồng chịu
trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu
thiết yếu của gia đình. hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện giữa
vợ và chồng. Ngoài ra, vợ chồng còn chịu trách nhiệm liên đơi về các nghĩa vụ
chung về tài sản quy định tại Điều 37 Luật HNGĐ 2014, bao gồm:
-
Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách
nhiệm;
-
Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia
đình;
-
Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
-
Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối
tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
-
Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự
thì cha mẹ phải bồi thường;
-
Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.
2. Nguyên tắc chung về
chế độ tài sản của vợ chồng
Căn cứ Khoản 1 Điều 28 Luật HNGĐ
2014, vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận. Theo Điều 7 Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi
hành Luật Hôn nhân và gia đình, chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được
áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa
thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên
bố vô hiệu.
Theo Điều 29 Luật HNGĐ 2014, nguyên
tắc chung áp dụng trong chế độ tài sản của vợ chồng được quy định như sau:
Thứ nhất, vợ, chồng bình đẳng với
nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập;
Thứ hai, vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm
điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; Trong trường hợp vợ chồng
không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu
của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng
kinh tế của mỗi bên (Khoản 2 Điều 30 Luật HNGĐ 2914).
Thứ ba, việc thực hiện quyền, nghĩa
vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng,
gia đình và của người khác thì phải bồi thường.
Đối với giao dịch dân sự, luật định
chia thành những trường hợp sau:
Thứ nhất,
giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng. Theo Điều 31 Luật
HNGĐ 2014, Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là
nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp
nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực
hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho
vợ chồng.
Thứ hai,
giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản
chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký
quyền sở hữu, quyền sử dụng. Theo Điều 32 Luật HNGĐ 2014, trong giao dịch với
người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài
khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên
quan đến tài sản đó; đối với động sản mà theo quy định của pháp luật không phải
đăng ký quyền sở hữu thì được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch
liên quan đến tài sản đó trong trường hợp Bộ luật dân sự có quy định về việc bảo
vệ người thứ ba ngay tình. Tuy nhiên, người thức ba được coi là không ngay tình
trong các trường hợp quy định tại Điều 8 Nghị định 126/2014/NĐ-CP như sau:
- Đã được vợ, chồng cung cấp thông
tin mà vẫn xác lập, thực hiện giao dịch trái với những thông tin đó;
- Vợ chồng đã công khai thỏa thuận
theo quy định của pháp luật có liên quan về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản và người thứ ba biết hoặc phải biết nhưng vẫn xác lập, thực hiện giao dịch
trái với thỏa thuận của vợ chồng.
Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.
Nhận xét
Đăng nhận xét